SƠ ĐỒ PHÁT HÀNH VÀ LUÂN CHUYỂN SURRENDERED B/L:

[Total: 0    Average: 0/5]
I-Vận đơn nộp tại cảng bốc hàng (Surrendered B/L):

“Surrender”có nghĩa là “giao nộp lại chứng từ”, hoặc chứng từ đó đã “được thu hồi”. Thuật ngữ này cùng một số thuật ngữ khác xuất hiện trong vài chục năm gần đây đều dưới dạng là tập quán. Vì vậy, chưa có một định nghĩa được công nhận rộng rãi và đưa vào các văn bản pháp luật hàng hải quốc tế.

Khi vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, sau khi bốc hàng lên tàu, Viet Nam Ship Corp cấp cho người gửi hàng (shipper) một vận đơn. Vận đơn này tùy theo yêu cầu của người gửi hàng, có thể là vận đơn đích danh (Straight B/L) hoặc vận đơn theo lệnh (To Order B/L). Nguyên tắc chung của nhiều nước là: vận đơn đích danh hay vận đơn theo lệnh, khi hàng đến cảng đích, người nhận hàng đều phải nộp bản vận đơn gốc thì mới nhận được hàng. Trên thực tế, có nhiều trường hợp hàng đã đến cảng đích nhưng vận đơn lại chưa đến, do đó không thể nhận được hàng bằng vận đơn.

Để khắc phục tình trạng vận đơn đến chậm và để tiết kiệm chi phí gửi vận đơn gốc, trong những năm gần đây người ta dùng một loại vận đơn gọi là “Vận đơn đã nộp tại cảng bốc hàng” (Surrendered Bill of Lading). Chính xác hơn là không cấp bản gốc và vận đơn này không có giá trị để giao dịch chuyển nhượng trên thị trường.

Đây là loại vận đơn thông thường, chỉ khác là khi ký phát vận đơn, Viet Nam Ship Corp ghi hoặc đóng dấu lên vận đơn dòng chữ “đã nộp vận đơn” (Surrendered) để nói lên rằng bản gốc đã được nộp lại, đã được thu hồi và thu hồi vận đơn. Đồng thời, thông báo cho đại lý của Viet Nam Ship Corp tại cảng đích biết để đại lý trả hàng cho người nhận mà không cần thu hồi vận đơn gốc. Việc thông báo này thường thể hiện qua hình thức một văn bản (điện báo, email, fax) gọi là “trả hàng ngay” (Express Release). Sau khi thu hồi vận đơn, nếu người giao hàng có yêu cầu, đại lý hãng tàu sẽ cấp cho họ một bản chụp vận đơn có ghi dòng chữ “Surrendered”. Người giao hàng chỉ cần gửi bản sao vận đơn này đến người nhận hàng là họ có thể nhận được hàng.

II-Quy trình phát hành và luân chuyển surrendered B/L thực tế

Bước 1: Shipper giao hàng cho Viet Nam Ship Corp và yêu cầu ký phát Surrendered B/L.
Bước 2: Nhằm xác định bằng chứng của việc giao hàng, công ty Viet Nam Ship Corp ký phát Surrendered B/L (Copy non-negotiable)
Bước 3: Shipper gửi Surrendered B/L cho Consignee tại cảng đến thông qua fax (hoặc telex hoặc email).
Bước 4: Công ty Viet Nam Ship Corp truyền dữ liệu lô hàng và thông báo cho đại lý cảu mình tại cảng dỡ về việc lô hàng này sử dụng Sureender B/L.
Bước 5: Đại lý của Viet Nam Ship Corp tại cảng đến gửi thông báo hàng đến cho consignee để công ty này chuẩn bị các thủ tục cần thiết để nhận hàng.
Bước 6: Consignee xuất trình Surrendered B/L cho đại lý của Viet Nam Ship Corp tại cảng đến như là bằng chứng để nhận hàng
Bước 7: Đại lý Viet Nam Ship Corp tại cảng đến ký phát cho consginee bộ lệnh giao hàng D/O (Delivery order).
Bước 8: Consignee Công nhận hàng ngoài cảng trên cơ sở xuất trình lệnh giao hàng D/O.

III. Thuận lợi và hạn chế của surrendered B/L

1. Thuân lợi:

• Tiết kiệm chi phí phát hành và luân chuyển Original B/L từ Shipper qua Consignee. Để có thể nhận hàng bằng Surrendered B/L, người nhận hàng chỉ cần xuất trình bản sao vận đơn có dòng chữ “Surrendered” do người gửi hàng gửi bằng fax ( telex hay email) là có thể nhận hàng. Trong khi đó, với B/L thông thường, nhất thiết phải cần đến Original B/L được gửi chuyển phát nhanh với chi phí khá cao.

• Khắc phục việc hàng tới mà vận đơn chưa nhận được. Do sử dụng bản sao để nhận hàng nên Surrendered B/L có thể được gửi tới người nhận hàng trước hoặc cùng lúc với thời gian hàng đến. Bởi vậy, việc nhận hàng được tiến hành nhanh chóng và thuận tiện. Consignee không nhận được hàng hoặc nhận hàng chậm sẽ ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất kinh doanh của người mua, hơn nữa hàng nằm ở kho bãi sẽ phải chịu phí phạt lưu container.

2. Hạn chế:

• Surrendered B/L không có giá trị chuyển nhượng nên Consignee không thể thực hiện việc bán hàng trong hành trình.

• Shipper là người gặp rủi ro nhiều nhất khi áp dụng hình thức Surrendered B/L vì nếu trên đường vận chuyển, nếu có rủi ro đối với hàng hóa thì Shipper không có chứng từ hợp lệ và tính pháp lý để đòi bồi thường (Shipper không hề có chứng từ gốc), Consignee không thể nhận hàng nên sẽ không thanh toán cho Shipper.

• Consignee cầm bản copy trong một số trường hợp gặp rủi ro có thể sẽ không nhận được hàng.

3-Khuyến khích sử dụng Surrendered B/L trong 2 trường hợp:

• Mối quan hệ giữa Shipper và Consignee là công ty mẹ và công ty con ở 2 quốc gia khác nhau vì Shipper sẽ tiết kiệm được chi phí gửi chứng từ gốc cũng như trong trường hợp ký phát vận đơn gốc phí cao hơn ký phát Surrendered B/L và khắc phục được tình trạng hàng tới mà vận đơn chưa tới.
• Mối quan hệ giữa Shipper và Consignee ràng buộc căn cứ trên hợp đồng gia công xuất nhập khẩu vì hình thức gia công này giao nhận chứng từ vận tải thường áp dụng Surrendered B/L, không mang tính buôn bán như hợp đồng ngoại thương chủ yếu lấy công làm lời.
• Dùng Surrendered B/L trong các trường hợp nhận hàng không cần xuất trình B/L gốc tại cảng đến vì một số lý do như thời gian hành trình vận chuyển ngắn nên việc chuẩn bị chứng từ không kịp hoặc do thỏa thuận giữa người mua và người bán về việc nhận hàng thuận lợi tại cảng đến không cần xuất trình B/L gốc.

4- Các trường hợp tránh sử dụng B/L surrendered:

• Không nên sử dụng hình thức Surrendered B/L trong thương vụ đầu tiên mà nên sử dụng Original B/L.
• Các bên rất sợ trong quá trình gia công (trong phần phu liệu gia công):
– Thiếu nguyên phụ liệu (ảnh hưởng các bước sau)
– Các chứng từ giao nhận đi theo các bước tuần tự (mất thời gian)

Khi đàm phán ký kết hợp đồng ngoại thương nếu sử dụng phương thức thanh toán là tín dụng chứng từ thì không nên sử dụng Surrendered B/L vì hãng tàu sẽ không ký phát vận đơn gốc nào khi sử dụng hình thức Surrendered B/L trong khi phương thức tín dụng chứng từ đòi hỏi phải có vận đơn gốc.

Ví dụ: trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, ngân hàng yêu cầu người bán sau khi giao hàng xuất trình bộ chứng từ thanh toán (trong đó xuất trình 3/3 Original B/L hoặc 2/3 Original B/L hoặc 1/3 Original B/L).

Do đó người bán không có vận đơn gốc, người mua bắt lỗi người bán và từ chối thanh toán hợp lý.

Write a Comment

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *