Gia công quốc tế

[Total: 1    Average: 5/5]

1, Khái niệm và đặc điểm của gia công quốc tế.

a, Khái niệm.

Gia Công quốc tế (GCQT) là phương thức gia công quốc tế trong đó bên đặt gia công nước ngoài cung cấp máy móc, thiết bị nguyên liệu phụ kiện hoặc bán thành phẩm để bên nhận gia công trong nước tiến hành tổ chức quá trình sản xuất thành sản phẩm theo yêu cầu của bên đặt gia công.Toàn bộ sản phẩm làm ra bên nhận gia công sẽ giao lại cho bên đặt gia công để nhận về 1 khoản thù lao (phí gia công) theo thỏa thuận. Gia công quốc tế là hình thức gia công thương mại mà bên đặt gia công hoặc bên nhận gia công là thương nhân nước ngoài.

b, Đặc điểm của gia công quốc tế.

Gia công quốc tế là một phương thức ủy thác gia công, trong đó hoạt động xuất nhập khẩu gắn liền với hoạt động sản xuất.

Trong quá trình gia công, bên nhận gia công trong nước bỏ ra lao động, tiền chi phí gia công (thù lao lao động). Do đó, có thể nói gia công quốc tế là một hình thức mậu dịch lao động, một ìn thức xuất khẩu lao động tại chỗ thông qua hàng hóa.

Gia công quốc tế là một phương thức buôn bán gia công “hai đầu ở ngoài”, nghĩa là thị trường nước ngoài là nơi cung cấp nguyên vật liệu, đồng thời cũng là thị trường tiêu thụ sản phẩm đó.

Ở đây cần lưu ý, nghiệp vụ gia công quốc tế khác với nghiệp vụ nhập khẩu thành phẩm (mua đứt bán đoạn). Tuy nó cùng về phương thức buồn bán gia công “Hai đầu ở ngoài” nhưng nó có điểm khác biệt rõ rệt với gai công quóc tế ở chỗ:

Thứ nhất, trong nhập khẩu nguyên liệu và xuất khẩu thành phẩm là hai vụ giao dịch khác nhau, đều xảy ra chuyển dịch quyền sở hữu, người cung ứng nguyên liệu và người mua thành phẩm không có liên hệ chắc chắn nào. Trong nghiệp vụ gia công quốc tế, nhập nguyên liệu đầu vào và xuất thành phẩm đi không có sự chuyển dịch quyền sở hữu, hoặc nếu có chuyển dịch quyền sở hữu trong nhập nguyên liệu nhưng chúng đều thuộc một cuộc giao dịch, các việc có liên quan đều được quy định trong cùng một hợp đồng. Vì ngiệp vu gia công quộc tế thuộc về ủy thác gia công, do đó người cung ứng nguyên liệu lại chính là người nhận thành phẩm.

Thứ hai, trong nghiệp vụ nhập khẩu nguyên liệu gia công và xuất khẩu thành phẩm, nhà mày trong nước mua từ nước ngoài nguyên liệu, gai công thành phẩm, làm tăng giá trị, sau đó bán ra thị trường nước ngoài, kiếm giá trị chênh lệch từ nguyên liệu đến thành phẩm, nhà máy trong nước phải chịu những rủi ro khi tiêu thụ trên thị trường. Trong nghiệp vụ gia công quốc tế, vì thành phẩm giao cho bên đặt gia công tự tiêu thụ, nhà máy trong nước không phải chịu rủi ro, nhưng phần nhận được cũng chỉ là thù lao sức lao động, còn giá trị lao động lớn như thế nào thì không cần quan tâm, do đó, lợi nhuận thu được từ nghiệp vụ gia công quôc tế thường thấp hơn nhiều so với nhập khẩu nguyên liệu gia công.

Nên, phấn đấu để tăng dần tỷ lệ “mua đứt bán đoạn” lên thay thế gia công thuần túy đang là mục tiêu quan trọng của các doanh nghiệp đang thực hiện gia công quốc tế tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.

2, Tác dụng của phương thức gia công quốc tế.

Áp dụng phương thức giao dịch gia công quốc tế đều có tác dụng tích cực đối với bên đặt gia công cũng như bên nhận gia công, nên gia công quốc tế ngày nay khá phổ biến trong thương mại quốc tế của nhiều nước.

Tác dụng đối với bên đặt gia công Tác dụng đối với bên nhận gia công
– Hạ thấp giá thành sản phẩm, do đó làm tăng sức mạnh cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

– Có thể điều chỉnh cơ cấu ngành nghề ở nước sở tại

– Giảm tải dư thừa lao động hay thất nghiệp, phát triển nguồn nhân  lực, tăng Thu nhập thêm ngoại tệ.

– Phát triển nguồn lao động, tạo cơ hội việc làm và làm phát triển kinh tế.

– Thu hút sự đầu tư kỹ thuật hiện đại và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các nước ngoài, thúc đẩy kinh tế hướng xuất khẩu phát triển.

3, Các loại gia công quốc tế và hợp đồng gia công quốc tế.

a, Các loại gia công quốc tế.

Theo quyền sở hữu nguyên liệu, gia công quốc tế có các hình thức sau.

– Bên đặt gia công theo nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhận gia công và sau thời gian sản xuất, chế tạo, sẽ thu hồi thành phẩm và trả phí gia công. Trong trường hợp này, trong thời gan chế tạo, quyền sở hữu về nguyên liệu vẫn thuộc về bên đặt gia công.

– Bên đặt gia công bán đứt nguyên liệu cho bên nhận gia công và sau thời gian sàn xuất chế xuất, sẽ thu hồi thành phẩm. Trong trường hợp này, quyền sở hữu nguyên liệu chuyển từ bên đặt gia công sang bên nhận gia công .

– Ngoài ra, người ta còn áp dụng hình thức kết hợp, trong đó bên đặt gia công chỉ giao những nguyên liệu chính, còn bên nhận gia công cùng cung cấp nguyên vật liệu phụ

Theo giá cả gia công:

– Theo giá thực tế, trong đó bên nhận gia công thanh toán với bên nhân gia công toàn bộ những chi phí thực tế của mình cộng với tiền thù lao gia công.

– Theo giá thị trường, trong đó người ta xác định một giá định mức cho mối sản phẩm, bao gồm chi phí định mức và thù lao định mức. Dù chi phí thực tế của bên nhận gia công là bao nhiêu đi chăng nữa ,hai bên vẫn thanh toán với nhau theo giá định mức đó.

Theo số bên tham gia quan hệ gia công,có hai loại gia công sau đây:

– Gia công hai bên, trong đó chỉ có bên đặt gia công và bên nhận gia công.

– Gia công nhiều bên, còn gọi là gia công chuyển tiếp, trong đó bên nhận gia công là một số doanh nghiệp mà sản phẩm gia công của đơn vị  trước là đối tượng gia công của đơn vị sau, còn bên nhận gia công vẫn chỉ là một.

b, Hợp đồng gia công quốc tế:

Bản chất: là hơp đồng bán sức lao động

Các phương thức kí kết hợp đồng gia công quốc tế

– Nhà máy trực tiếp kí kết với nước ngoài

– Công ty xuất nhập khẩu kí kết hợp đồng, nhà máy gia công (nguyên liệu ,máy móc….)

– Qua công ty dich vụ gia công quốc tế

Những nội dung cơ bản của hợp đồng gia công quốc tế

– Mục đích của hợp đồng

– Quy định về thành phẩm

– Quy định về nguyên vật liệu

– Quy định về giá cả gia công

– Quy định về nghiệm thu

– Quy định về thanh toán

– Quy định về giao hàng

– Quy định về vận chuyển

– Quy định về bảo hiểm

4, Những vấn đề cần chú ý khi áp dụng phương thức gia công quốc tế.

Gia công quốc tế là một phương thức thương mại quốc tế mà các nước đang phát triển trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa thường áp dụng, nhằm tận dụng những lợi ích mà gia công quốc tế đem lại. Khi áp dụng gia công quốc tế vần lưu ý các vấn đề sau:

– Khi phát triển nghiệp vụ thương mại quốc tế phải có quan điểm toàn cục, chú ý xử lý tốt mối quan hệ với xuất khẩu thông thường.

– Xác định hợp lý chi phí lao động: cần tăng cường hoặch toán kinh tế, chú ý tới hiệu quả kinh tế. Với nước có giá thành gia công thấp hơn nước ngoài, khi quyết định mức chi phí lao động, không những phải xem xét xem có hợp lý hay không, đồng thời phải tham khảo mức chi phí lao động của thị trừơng nước ngoài để hoặch toán, cân nhắc hiệu quả, để cho tiêu chuẩn chi phí của mình vừa có sức cạnh tranh, lại thu về nhiều ngoại tệ cho nước mình, tránh sự cạnh tranh với các đơn vị gia công khác trong nước, tự ý hạ thấp mức chi phí lao động.

– Dần dần mở rộng tỷ trọng sử dụng nguyên liệu, linh kiện nước mình sản xuất: ở những khu vực hoặc đơn vị có điều kiện,cần cố gắng sử dụng nhiều nguyên vật liệu hoặc linh kiện do nước mình sản xuất, tranh thủ nâng cao tỷ trọng ở mặt này, dần dần quá độ sang tự kinh doanh XK.

– Nâng cao năng lực của doanh nghiệp: Nỗ lực nâng cao năng lực của doanh nghiệp về mọi mặt. Không ngừng nâng cao năng suất lao động, tăng khả năng cạnh tranh về mặt chất lượng. Những đơn vị có điều kiện cần có kế hoặch dần dần nâng cao trình độ kỹ thuật của nghiệp vụ gia công. Từ gia công nhiều sức lao động quá độ sang gia công tập trung kỹ thuật,tập trung vốn.

Write a Comment

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *