Công ước quốc tế thống nhất một số quy tắc pháp luật liên quan đến vận đơn đường biển năm 1924 và các nghị định thư bổ sung năm 1968 và 1979 (Quy tắc Hague-Visby).

a) Phạm vi áp dụng chung của Công ước
– Quy tắc Hague-Visby đề cập tới vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển. Quy tắc quy định trách nhiệm của người chuyên chở liên quan đến việc “ bốc xếp, lưu kho, sắp xếp, vận chuyển, coi giữ, bảo quản và dỡ” hàng hóa chuyên chở. Quy tắc một hệ thống trách nhiệm mềm, có lợi cho người chuyên chở. Điều này là do thực tế Vào năm 1924, vận tải hàng hải quốc tế rất nguy hiểm, vì vậy nếu quy mọi trách nhiệm về vận tải cho người chuyên chở sẽ không công bằng. Do đó, các nhà đàm phán tại Hague cho rằng người gửi hàng cũng phải chia xẻ một số rủi ro về vận tải.
– Quy tắc Hague-Visby áp dụng đối với các vận đơn đường biển được phát hành tại bất kỳ nước thành viên nào. Quy tắc cũng được áp dụng khi việc vận chuyển được thực hiện từ một cảng của nước thành viên hoặc khi hợp đồng vận chuyển quy định khả năng áp dụng Công ước hoặc khả năng áp dụng luật có quy định dựa trên Công ước.
– Quy tắc Hague-Visby không áp dụng với trách nhiệm đối với các thiệt hại hạt nhân.
– Quy tắc Hague-Visby áp dụng với hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển có phát hành vận đơn.
– Quy tắc Hague-Visby không áp dụng với các hợp đồng thuê tàu trừ khi các vận đơn được phát hành trong trường hợp một tàu chở hàng theo một hợp đồng thuê tàu thì phải tuân thủ các điều khoản của Qui tắc này.
– Quy tắc Hague-Visby không tạo ảnh hưởng tác động qua lại với bất kỳ Công ước nào giữa các bên tham gia về việc trông giữ và chuyển dịch hàng hoá trước khi xếp xuống tàu hoặc sau khi dỡ hàng hoá khỏi tàu. Ngoài ra, khi hàng hóa vận chuyển không phải là hàng thương mại thông thường được thực hiện theo trình tự thương mại thông thường, người gửi hàng và người chuyên chở có thể không theo Quy tắc
– Hague-Visby. Tuy nhiên, họ không thể phát hành một vận đơn thỏa thuận được. Quy định đặc biệt này áp dụng đối với những chuyến hàng đòi hỏi phải có một thỏa thuận đặc biệt do đặc tính hoặc tình trạng của tài sản được vận chuyển hoặc hoàn cảnh cụ thể, điều khoản hoặc điều kiện trong đó việc vận chuyển được thực hiện.

Read More

Quy chế kho ngoại quan

Đối tượng được phép thuê Kho ngoại quan:

Các đối tượng nói tại khoản 1 Điều 6 Quy chế Kho ngoại quan đều được phép thuê Kho ngoại quan để gửi hàng chờ xuất khẩu và chờ nhập khẩu của mình. Trường hợp các doanh nghiệp này xuất hoặc nhập khẩu uỷ thác cho các doanh nghiệp khác không được quyền xuất nhập khẩu trực tiếp thì lô hàng uỷ thác đó cũng được phép gửi Kho ngoại quan và bên nhận uỷ thác có nghĩa vụ chấp hành mọi quy định của quy chế kho ngoại quan và các trách nhiệm pháp lý liên quan khác.

Read More

Trách nhiệm của người vận chuyển ra sao khi giao hàng ở cảng đích cho người cầm vận đơn giả

Luật pháp Việt Nam và thông lệ quốc tế đều công nhận vận đơn là chứng từ thể hiện quyền sở hữu hàng hóa (Document of Title). Người cầm giữ vận đơn hợp pháp có
thể dùng nó để chiết khấu với ngân hàng vay tiền trước khi hàng về, có thể cầm cố nó như một loại tài sản để xin cấp tín dụng (Đièu 73 Bộ luật hàng hải Việt Nam và British
Shipping Law, Vol, 5 Page 107). Chính vì vậy, các công ty vận tải biển đều quản lý vận đơn rất chặt chẽ. Người ta coi vận đơn như tờ séc vì, với tờ séc người sở hữu có thể đến
ngân hàng rút tiền mặt, thì với vận đơn người cầm giữ hợp thức (B/L Holder in good faith) có thể nhận hàng khi tàu về cảng đích. Nếu quản lý vận đơn không chặt chẽ, người
chuyên chở phải gánh chịu hậu quả nặng nề. Các tòa án quốc tế coi việc người chuyên chở giao hàng cho kẻ cầm vận đơn giả cũng tương tự như giao hàng không thu hồi vận đơn gốc. Sau dây là một trường hợp điển hình:
Hãng tàu ML trong một lô hàng chở đến cảng Abidjan và Contonou ở Tây Phi đã giao hàng cho kẻ cầm vận đơn giả. Chủ hàng thật đã kiện ML tại tòa án Anh để đòi bồi
thường thiệt hại vì cho rằng hãng tàu đã giao hàng mà không thu hồi vận đơn thật, tức vận đơn gốc. ML lập luận rằng mình được miễn trách nhiệm trong trường hợp này vì Điều 5-3b mặt sau vận đơn nói rằng “Trong bất cứ trường hợp nào nếu hợp đồng vận chuyển bắt đầu tại cảng xếp hàng và/hoặc kết thúc tại cảng dỡ hàng thì người vận chuyển không chịu bất cứ trách nhiệm nào đối với hư hỏng mất mát hàng hóa vì bất cứ lý do gì trước khi hàng hóa được xếp lên tàu hoặc sau khi dỡ khỏi lan can tàu cho dù hàng hóa thực tế hoặc ngầm hiểu là đã được đặt dưới sự trông nom và bảo quản của người
vận chuyển”.

Read More

Vận đơn theo lệnh: Một số vấn đề cần lưu ý

Vận đơn đường biển (Marine/Ocean Bill of Lading) – chứng từ quan trọng nhất trong các giao dịch là chứng từ chứng minh việc giao hàng (shipment). Nó được phát hành bởi nhà chuyên chở hoặc đại lý của nhà chuyên chở như là một giấy biên lai nhận hàng của nhà chuyên chở. Quan trọng hơn, vận đơn là một chứng từ sở hữu (document of title), cho phép người nắm giữ vận đơn gốc nhận hoặc chuyển quyền sở hữu đối với hàng hoá ghi trên vận đơn. Nó thường được phát hành theo lệnh (made out to order), và do đó có thể được chuyển nhượng bằng cách ký hậu. Vận đơn thường được phát hành 3 bản gốc đóng dấu “ORIGINAL” và một số bản sao có ghi dòng chữ “COPY – NON NEGOTIABLE”. Bản sao klhông có giá trị sở hữu hàng hoá mà chủ yếu được dùng để làm các thủ tục hải quan. Tất cả các bản gốc hợp thành một bộ đầy đủ (a full set). Ngay khi một trong những bản gốc được xuất trình để nhận hàng, các bản còn lại không còn giá trị. Trừ khi thư tín dụng quy định khác, ngân hàng thường yêu cầu người thụ hưởng xuất trình một bộ đầy đủ.

Read More